đường dốc tiếp cận

New Zealand P.5 – Bài học Tiếp Cận của Quán cà phê Felix

Posted on Updated on


Kỳ 1 – Bài học tiếp Cận của khách sạn CQ, Wellington – New Zealand

Kỳ 2 – WC Công Cộng Exeloo

Kỳ 3 – Sân bay Auckland

Kỳ 4 – Khu vui chơi thủy cung Kelly Tarlton

KỲ 5  – Quán cà phê Felix

Có bao giờ bạn ngồi một mình trong quán cà phê, thả mình theo những điệu nhạc du dương hay chỉ đơn giản là tìm một chỗ yên tĩnh để có thể làm việc? Câu trả lời hiển nhiên là có. Không phải chỉ ở Việt Nam mà trên khắp thế giới, quán cà phê đã trở thành một địa điểm yêu thích với nhiều người.

Quán cà phê Flix
Quán cà phê Flix

Nhưng với người khuyết tật, dù mong muốn, họ có thể dễ dàng đến một quán cà phê hay ko? Hãy xem thử trường hợp Felix ở Wellington.

Luke Calder – Giám đốc ca trực và đại diện của Felix :”Tôi nghĩ Felix có vẻ giống như một trụ sở của Wellington. Chúng tôi là một địa điểm khá lớn và có thể chứa được từ 60 – 70 khách cùng một lúc. Chúng tôi luôn vui vẻ, thích đùa giỡn và thích chăm sóc mọi người. Đôi khi, tôi sẽ ngồi xuống và hỏi khách hàng về ngày hôm đó của họ và tất cả chúng tôi đều có một tràng cười thoải mái. Ừ, thật sự thì chỉ cần vui vẻ là đủ rồi.

Đối với tôi, sự tiếp cận là chào đón tất cả mọi người, kể cả họ đã già yếu, sử dụng xe lăn hoặc có con, dùng xe đẩy. Bạn biết đấy, tôi thật sự thích việc chăm sóc những bà mẹ, vui đùa với lũ trẻ và điều vui nhất là bạn có thể cho lũ nhóc một ít đồ ngọt ở đây. Đơn giản là làm cho mọi người đều dễ chịu. Sự mến khách là là tất cả mọi thứ. Không phải chỉ là việc điều hành và phục vụ một quán cà phê. Đó thật sự là một trải nghiệm thú vị.

– Cô muốn một ly sô cô la nóng?

– À, thì ra đó là một li sô cô la nóng.

Bạn cần phải tiếp cận được với tất cả mọi người nếu bạn muốn tối đa hóa những việc bạn đang làm cùng với lòng mến khách. Điều đó sẽ khiến quán cà phê của bạn được nhiều người biết đến và sẽ mang lại cho bạn một cảm giác ấm áp khi biết rằng bạn đang thật sự giúp đỡ và đang làm nên một điều gì đó khác biệt, dù nhỏ thôi. Quan trọng nhất là bạn cần phải chăm sóc mọi người giống nhau, không phải chỉ quan tâm đến li cà phê họ uống và số tiền họ đã bỏ ra cho li cà phê đó. Điều bạn thật sự cần quan tâm là tại sao họ đến quán của bạn.

Bạn biết đấy, tôi thật sự thích thú trong việc tìm hiểu về mọi người: họ làm gì, họ ở đâu, họ đang sống thế nào. Nhân cách, giống như tất cả chúng ta đều biết, cần phải trải qua một chặng đường dài để đạt được và tôi nghĩ đó thật sự là điều quan trọng nhất.

Nguyễn Thanh Thanh lược dịch

New Zealand thể hiện quan điểm rất rõ ràng về hướng phát triển du lịch và đời sống tiện nghi, tóm tắt trong tài liệu của Be Accessible.

“Khách hàng cần tiếp cận” là một thị trường chưa được khai thác lớn nhất thế giới. Họ chiếm 20% dân số chúng ta – tức là khoảng 1 tỷ người trên hành tinh này. Tuy nhiên, đối với nhóm người này, doanh nghiệp của bạn bị thử thách vì những rào cản tiếp cận họ. Bạn có biết là…

  • 750,000 nhân viên hiện tại sẽ có thể được hưởng những quyền lợi từ việc tiếp cận tốt hơn
  • 44%  người New Zealand trên 45 tuổi
  • 20% người New Zealand đã báo cáo tình trạng khuyết tật
  • Ở Úc, 25% dân số trên 45 tuổi – bao gồm 5.3 triệu người thuộc thế hệ bùng nổ dân số (6-7x) đang chiếm 50% cư dân mạng.
  • Ở Mỹ, 70tr người trên 45 tuổi và đang sở hữu 77% tài sản của quốc gia

“Khách hàng cần tiếp cận” là những ai?

  • Một người suy giảm thị lực hoặc thính giác
  • Một người sử dụng xe lăn
  • Một người khuyết tật trí tuệ
  • Phụ huynh đẩy xe nôi
  • Một người cao tuổi

New Zealand đang xây dựng và học hỏi không ngừng để xoá bỏ những rào cản, giúp cho những công trình và doanh nghiệp dễ dàng được tiếp cận, tạo sự công bằng xã hội, tận dụng tối đa những lợi ích còn bị bỏ ngỏ. Be Accessible của New Zealand có rất nhiều bài học thú vị về công trình tiếp cận.

New Zealand P.4 – Bài học Tiếp Cận của Khu vui chơi Thủy cung Kelly Tarlton

Posted on Updated on


Kỳ 1 – Bài học tiếp Cận của khách sạn CQ, Wellington – New Zealand

Kỳ 2 – WC Công Cộng Exeloo

Kỳ 3 – Sân bay Auckland

KỲ 4  – Khu vui chơi thủy cung Kelly Tarlton

Thế giới dưới nước Kelly Tarlton là một thủy cung công cộng ở Auckland, New Zealand được mở cửa vào năm 1985. Kelly Tarlton là đứa con tâm huyết của nhà khảo cổ học biển và thợ lặn Kelly Tarlton (1937-1985). Được xây dựng thành nhiều bể chứa, thủy cung này đã sử dụng một hình dạng mới, sử dụng những đường hầm uốn cong hơn là những khu vực quan sát với chỉ những ô cửa phẳng lì, như trong những thủy cung trước đây. Đây cũng là dự án đầu tiên sử dụng những dải băng chuyền để khách tham quan có thể di chuyển chậm rãi qua những khu vực quan sát.

Khu vui chơi Thủy cung Kelly Tarlton
Khu vui chơi Thủy cung Kelly Tarlton

Jame Thomas – Giám đốc điều hành :” Kelly Tarlton là thủy cung lớn nhất của New Zealand và là điểm viếng thăm Nam Cực lớn nhất, đã được mở cửa trong 26 năm và đón hơn 11 triệu khách viếng thăm trong khoảng thời gian này. Làm cho Kelly Tarlton tiếp cận đối với tất cả các khách hàng là điều rất quan trọng với chúng tôi. Sự định giá đã được thực hiện rất có giá trị đối với Kelly Tarlton. Bước đầu, chúng tôi đã trải qua những khó khăn  để hoàn thiện, và người định giá cũng đã đưa ra một số đề nghị khá dễ dàng về những điểm mà chúng tôi có thể làm tốt hơn trong tương lai. Lối vào của thủy cung này rất dễ dàng và dễ tiếp cận. Nó có cửa đôi, có nhà vệ sinh cho người khuyết tật ngay cạnh cửa vào, ở giữa và ở cuối. Chúng tôi có những con dốc trong suốt đường đi. Thật sự, khi bạn đi tới tận cùng của khu thủy cung này, thì sẽ không có dốc, nhưng ở đó lại có sẵn máy nâng.”

Khách nữ:  ”Đây là lần đầu tiên tôi tới đây với một xe đẩy trẻ em. Tôi thấy thủy cung này rất tốt, thật sự rất tốt. Lối vào dễ dàng, có thể sử dụng dốc và mọi thứ. Thật sự tuyệt vời, rất, rất tốt.”

Khách nam: “Chúng tôi đã tới Luân Đôn nhiều lần và thấy một số nơi kinh doanh có những bậc thang ở ngoài. Ở Auckland, chúng tôi không có những bậc thang này. Tất cả những cửa hàng mà chúng tôi từng đến đều rộng rãi và thoải mái. Rất tốt, dễ dàng và dễ sử dụng.”

Khách nữ: “Chúng tôi bước vào và xuống dốc. Ở đây có rất nhiều chỗ nghỉ chân và chúng tôi có thể dừng lại vào nhiều thời điểm khác nhau, nghỉ ngơi một lát rồi lại tiếp tục. Không có vấn đề gì khó khăn cả.”

Jame Thomas :”Auckland hy vọng sẽ trở thành thành phố tiếp cận nhất thế giới và New Zealand sẽ là quốc gia tiếp cận nhất trên thế giới. Theo quan điểm của một doanh nghiệp như Kelly Tarlton, đây là việc có ích bởi chung quy mà nói, điều chúng tôi quan tâm nhất là lượng khách tham quan. Điều này rất quan trọng cho một thành phố, một đất nước và đây là một mục tiêu tuyệt vời để phấn đấu.”

Nguyễn Thanh Thanh lược dịch

New Zealand thể hiện quan điểm rất rõ ràng về hướng phát triển du lịch và đời sống tiện nghi, tóm tắt trong tài liệu của Be Accessible.

“Khách hàng cần tiếp cận” là một thị trường chưa được khai thác lớn nhất thế giới. Họ chiếm 20% dân số chúng ta – tức là khoảng 1 tỷ người trên hành tinh này. Tuy nhiên, đối với nhóm người này, doanh nghiệp của bạn bị thử thách vì những rào cản tiếp cận họ. Bạn có biết là…

  • 750,000 nhân viên hiện tại sẽ có thể được hưởng những quyền lợi từ việc tiếp cận tốt hơn
  • 44%  người New Zealand trên 45 tuổi
  • 20% người New Zealand đã báo cáo tình trạng khuyết tật
  • Ở Úc, 25% dân số trên 45 tuổi – bao gồm 5.3 triệu người thuộc thế hệ bùng nổ dân số (6-7x) đang chiếm 50% cư dân mạng.
  • Ở Mỹ, 70tr người trên 45 tuổi và đang sở hữu 77% tài sản của quốc gia

“Khách hàng cần tiếp cận” là những ai?

  • Một người suy giảm thị lực hoặc thính giác
  • Một người sử dụng xe lăn
  • Một người khuyết tật trí tuệ
  • Phụ huynh đẩy xe nôi
  • Một người cao tuổi

New Zealand đang xây dựng và học hỏi không ngừng để xoá bỏ những rào cản, giúp cho những công trình và doanh nghiệp dễ dàng được tiếp cận, tạo sự công bằng xã hội, tận dụng tối đa những lợi ích còn bị bỏ ngỏ. Be Accessible của New Zealand có rất nhiều bài học thú vị về công trình tiếp cận.

New Zealand P.3 – Bài học Tiếp Cận của Sân bay Auckland

Posted on Updated on


Kỳ 1 – Bài học tiếp Cận của khách sạn CQ, Wellington – New Zealand

Kỳ 2 – WC Công Cộng Exeloo

KỲ 3 – Sân bay Auckland

Sân bay Auckland là sân bay lớn nhất của New Zealand với hơn 13 triệu lượt hành khách (bao gồm 7 triệu lượt khách quốc tế và 6 triệu lượt khách nội địa) mỗi năm, và  số lượng này được trông đợi sẽ tăng lên gấp đôi vào năm 2025. Sân bay Auckland là một trong những cơ sở hạ tầng kỹ thuật quan trọng nhất của New Zealand, cung cấp hàng ngàn công việc cho người dân trong khu vực và đóng góp khoảng 14 tỉ đô một năm cho nền kinh tế quốc gia.

Roy Robertson – Giám đốc đảm bảo sự hài lòng và chất lượng :”Hiện nay, sân bay Auckland giống hệt một thành phố lớn. Chúng tôi có hơn 350 hectares trong tay, với nhiều giao dịch đã diễn ra, từ khoang hành lý tới những nhà ga nội địa và quốc tế của chúng tôi.”

Steve Hardwick – Người viết bài về kỹ thuật: “Một sân bay rộng với hơn 14.000 nhân viên. Hàng năm sân bay sẽ đón tiếp khoảng 14 triệu lượt hành khách, còn hàng ngày có khoảng 100 người với những nhu cầu tiếp cận đặc biệt”.

Roy Robertson :”Sân bay Auckland quan tâm đến những trải nghiệm của hành khách, có kết hợp với một cuộc kiểm nghiệm gần đây về khuyết tật mà chúng tôi đã thực hiện. Chúng tôi quan sát hành khách bước xuống từ xe buýt. Rất dễ dàng để họ đặt chân lên đường đi, có những bàn điều hành tốt hơn để họ có thể thật sự trò chuyện với người người đại diện dịch vụ khách hàng.”

Steve Hardwick :”Chúng tôi có xe lăn để sẵn và những hãng máy bay hỗ trợ người khuyết tật, những nhà vệ sinh tiếp cận được, những vòi nước uống tiếp cận được, những người hỗ trợ đứng ở nhiều địa điểm cả ở những nhà ga quốc tế và nội địa, nhằm chăm sóc những người có nhu cầu đặc biệt”.

Một khách hàng nam :”Ngày hôm nay, tôi sử dụng một chiếc xe lăn mà bản thân tôi cảm thấy rất tiếp cận để di chuyển khắp sân bay Auckland. Tôi đã nhiều lần tới sân bay này và chưa bao giờ gặp khó khăn tại đây.”

Một khách hàng nữ :”Sân bay Auckland thật sự rất tuyệt vời. Họ luôn đưa tôi tới những vị trí chuẩn xác và tôi có thể di chuyển khắp nơi rất tốt”.

Roy Robertson :”Sân bay Auckland có trách nhiệm xã hội nhằm đảm bảo tất cả hành khách cảm thấy thoải mái khi đến sân bay, sử dụng phương tiện của chúng tôi và có thể có một trải nghiệm di chuyển dễ chịu”.

Steve Hardwick :”Điều này rất tốt cho việc kinh doanh, cho xã hội và cho đất nước. Thiết nghĩ, điều này cần phải trở thành một phần chuẩn mực của thiết kế và cách thức làm kinh doanh”.

Nguyễn Thanh Thanh lược dịch

New Zealand thể hiện quan điểm rất rõ ràng về hướng phát triển du lịch và đời sống tiện nghi, tóm tắt trong tài liệu của Be Accessible.

“Khách hàng cần tiếp cận” là một thị trường chưa được khai thác lớn nhất thế giới. Họ chiếm 20% dân số chúng ta – tức là khoảng 1 tỷ người trên hành tinh này. Tuy nhiên, đối với nhóm người này, doanh nghiệp của bạn bị thử thách vì những rào cản tiếp cận họ. Bạn có biết là…

  • 750,000 nhân viên hiện tại sẽ có thể được hưởng những quyền lợi từ việc tiếp cận tốt hơn
  • 44%  người New Zealand trên 45 tuổi
  • 20% người New Zealand đã báo cáo tình trạng khuyết tật
  • Ở Úc, 25% dân số trên 45 tuổi – bao gồm 5.3 triệu người thuộc thế hệ bùng nổ dân số (6-7x) đang chiếm 50% cư dân mạng.
  • Ở Mỹ, 70tr người trên 45 tuổi và đang sở hữu 77% tài sản của quốc gia

“Khách hàng cần tiếp cận” là những ai?

  • Một người suy giảm thị lực hoặc thính giác
  • Một người sử dụng xe lăn
  • Một người khuyết tật trí tuệ
  • Phụ huynh đẩy xe nôi
  • Một người cao tuổi

New Zealand đang xây dựng và học hỏi không ngừng để xoá bỏ những rào cản, giúp cho những công trình và doanh nghiệp dễ dàng được tiếp cận, tạo sự công bằng xã hội, tận dụng tối đa những lợi ích còn bị bỏ ngỏ. Be Accessible của New Zealand có rất nhiều bài học thú vị về công trình tiếp cận.

Giáng Sinh 2012 – Đôi nét Nhà Thờ chưa đẹp

Posted on Updated on


Một mùa Giáng Sinh yêu thương vừa khép lại với dư âm ấm áp của tình người, lung linh những tấm lòng và hạnh phúc nhưng nụ cười của những chuyến từ thiện ở khắp mọi nơi. Người Công giáo cũng như không Công giáo đều hướng về tình yêu, tình người, đều kêu gọi tinh thần Giáng Sinh yêu thương vì người neo đơn, vì những hoàn cảnh đặc biệt.

Trang hoàng cho không khí Giáng Sinh là phố phường lên đèn lung linh. Đẹp nhất vẫn là hình ảnh những nhà thờ lộng lẫy, cổ kính và ấm áp. Nhưng đáng tiếc rằng nơi trung tâm Giáng Sinh lộng lẫy đó vẫn chưa thật sự dành cho tất cả mọi người. Vẫn còn rất nhiều người khuyết tật, người cao tuổi, người yếu bệnh và những hoàn cảnh đặc biệt khác không thể tiếp cận nhà thờ vì ở nơi đó, có quá nhiều những rào cản.

HÀNG RÀO NGĂN CÁCH KHUÔN VIÊN NHÀ  THỜ

Cổng sắt nhà thờ Tân Chí Linh Q3
Rãnh này là bình thường với nhiều người, nhưng thật sự là hào sâu đối với 2 bánh nhỏ của xe lăn – xe lắc, là bẫy chết người đối với người khiếm thị, là vực thẳm đối với những người cao tuổi đang phải cố sức để nhích từng bước chân.

Rào cản đầu tiên có thể kể đến là những hàng rào ở cổng chính. Do bối cảnh đất chật người đông, mỹ quan kiến trúc và an ninh công trình, mà hầu như các nhà thờ đều có tường rào kiên cố và cổng sắt. Đặc biệt khi cổng chính của nhà thờ sử dụng cửa sắt kéo, rãnh của loại cửa sắt này đào sâu, có những chỗ bị hư hại tạo thành vết nứt ổ gà. Rãnh này là bình thường với nhiều người, nhưng thật sự là hào sâu đối với 2 bánh nhỏ của xe lăn – xe lắc, là bẫy chết người đối với người khiếm thị, là vực thẳm đối với những người cao tuổi đang phải cố sức để nhích từng bước chân.

 NHÀ THỜ – CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC CỦA NHỮNG BẬC TAM CẤP

Lối đi không an toàn cho người lớn tuổi, người yếu chân, người đi xe lăn, người đi nạng và cả phụ nữ đang mang thai.

Rào cản tiếp theo là lối vào nhà thờ, đây cũng là rào cản lớn nhất đối với những người có nhu cầu tiếp cận. Một đặc điểm chung thường thấy nhất là hầu như các nhà thờ đều xây dựng với một dãy các bậc tam cấp. Một số nhà thờ mới thành lập sau này do diện tích hạn hẹp đã bỏ hẳn những đường dốc dành cho xe lăn, còn những nhà thờ có tuổi thọ hơn 15 năm thì hầu hết vẫn có đường dốc nằm đâu đó bên hông nhà thờ hoặc khuất hẳn ở phía sau.

Những đường dốc này sẽ đỡ đần một phần nào đó cho những ai muốn giúp người thân đẩy xe lăn vào nhà thờ. Nhưng trên thực tế, những đường dốc này không xây dựng trên chuẩn tiếp cận nên chưa giải quyết được bài toán “nhà thờ không rào cản”.

Độ dốc của những đường dốc này thường là 30o đến 60o, chiều dài dốc từ 1 đến 2m. Hầu như không có tay vịn, lan can bên hông đường dốc được xây bằng gạch và trẻ em thường “tận dụng” độ dốc của lan can này để làm…. cầu tuột. Không cần đến kiến trúc sư hay chuyên gia đô thị học, ai cũng có thể hiểu rằng xe lăn, người cao tuổi, người đi nạng, phụ nữ mang thai hay đẩy xe nôi không thể sử dụng đường dốc này.

Hầu như các đường dốc này không được bố trí dẫn đến sảnh chính nhà thờ, người đi xe lăn không thể đi đâu khác ngoài đi vào hành lang bên trong nhà thờ ở sát bên dưới cung thánh – nơi mà họ không thể ngồi tham dự thánh lễ.

BÊN TRONG NHÀ THỜ – BỮA TIỆC CÓ NHỮNG VỊ KHÁCH KHÔNG CÓ CHỖ NGỒI

Trong năm, thường có những thánh lễ đặc biệt dành cho những NKT, người cao tuổi, người đau bệnh. Trong những thánh lễ này, họ trở thành nhân vật chính và được ưu ái nhưng những kiệt tác của cuộc sống, toàn bộ khuôn viên chính của nhà thờ là dành cho họ. Nhưng những ngày còn lại trong năm, họ là những người ngồi bên lề, ngoài sân và gởi tấm lòng thành kính vào bên trong nhà thờ – nơi không có chỗ dành cho họ.

Bao giờ cũng vậy, để cử hành thánh lễ này, có cả một đội quân tình nguyện viên trẻ khoẻ để hỗ trợ. Nhưng những ngày còn lại trong năm, cả thể giới nhìn họ thương hại, thờ ơ và đôi khi nhầm lẫn họ với những người bán vé số, ăn xin đáng nghi ngờ và cần đề phòng lừa đảo. Rào cản đến ngay từ ánh nhìn của những người xung quanh. Vậy tự hỏi rằng, tại sao họ không vào bên trong nhà thờ? Vì ở nơi đó, họ không có chỗ ngồi.

Hành lang bên trong nhà thờ là loại trở ngại tiếp theo. Hành lang này thường nhỏ hẹp nên đôi khi xe lăn – xe lắc không lách qua được. Hành lang này lại là lối đi của cộng đoàn trong nghi thức rước lễ. Vì vậy, NKT sử dụng phương tiện hỗ trợ thường có tâm lý e ngại khi làm “cản trở giao thông” nếu chiếm chỗ trong những hành lang nhà thờ.

Thế nhưng, ngoài hành lang ra, họ không thể bỏ xe lăn để vào với hàng ghế. Một điều nên nhớ rằng, NKT không thể thoải mái và an toàn khi không đi cùng với xe lăn của mình, kể cả khi có người trợ giúp. Trong một số trường hợp dạng chấn thương tuỷ sống, ghế của nhà thờ không thoải mái và đôi khi gây nguy hiểm cho sức khoẻ của NKT hoặc họ không thể giữ thăng bằng và ngồi trên ghế như mọi người.

Cuối cùng, một thánh lễ thường rất đông người. Những NKT, người lớn tuổi, phụ nữ mang thai,… có những đặc điểm hạn chế về sức khoẻ sẽ không chịu nổi không khí ngộp hoặc gió mạnh – đặc biệt là loại gió thốc của quạt công nghiệp mà các nhà thờ ở Việt Nam đang sử dụng. Họ còn có một nhu cầu đi lại thuận tiện để có thể kịp thời di chuyển ra ngoài nhà thờ mà không cản trở người khác dự lễ.

Đó là việc tham dự thánh lễ, còn đối với nghi thức rước lễ, họ phụ thuộc hoàn toàn vào người thân. Nếu không có người thân, ở một số nhà thờ có các anh trật tự viên rất tinh tế và nhiệt tình sẽ dẫn đường cho linh mục đem Thánh thể (bánh đã được ban phép) đến tận nơi. Đây là một hình ảnh đẹp, nhưng theo cơ chế “ban phát xin – cho” hoàn toàn không có tính chủ động, nhưng đã thành một tâm lý chung mà ai cũng thấy đây là điều “hiển nhiên”.

Với tất cả những rào cản trên, NKT linh động thích nghi bằng cách chọn một vị trí ngoài sân, cách xa nơi mọi người tập trung đông. Họ đến thật sớm để ổn định chỗ ngồi an toàn nhất không cản trở ai và sẽ ra về sớm trước khi mọi người túa ra về để không “bị” trở thành những tác nhân gây tắc nghẽn giao thông đường phố.

Thật sự mà nói, nhu cầu tham dự thánh lễ của những người cao tuổi, NKT, người đau bệnh… là rất cao. Trung bình mỗi thánh lễ thường có ít nhất 1-2 NKT, rất nhiều người từ 60 tuổi trở lên và không phải lúc nào họ cũng đi cùng một người thân hay có một đội ngũ tình nguyện viên túc trực. Những người có nhu cầu tiếp cận này thường lại là những người rất sốt sắng đến dự lễ. Với đức tin của mình, họ chẳng quản ngại đường xá và nguy hiểm đến được đến nhà thờ dù chỉ là ngồi từ phía bên ngoài. Hành động này cũng giống như một người khoẻ mạnh vượt vực thẳm, trèo lên vách đá, đứng cheo leo nơi lộng gió để cầu nguyện và tìm sự “bình yên”.

Đây không phải là câu chuyện của những đòi hỏi cơ sở vật chất tối tân hiện đại, mà chỉ là một thay đổi nhỏ về suy nghĩ của mỗi người, sự quan tâm tinh tế trong thiết kế kiến trúc đặt người sử dụng làm trung tâm: thiết kế công trình cho người sử dụng và suy nghĩ như người sử dụng.

Matthew 16:19″And that’s not all. You will have complete and free access to God’s kingdom, keys to open any and every door: no more barriers between heaven and earth, earth and heaven. A yes on earth is yes in heaven.”

Giáng Sinh và tất cả mọi ngày trong năm sẽ đẹp hơn nếu tất cả mọi người được đến nhà thờ và lựa chọn chỗ ngồi cho mình ở một vị trí mà mình có thể tĩnh lặng theo cách của mình. Các linh mục đã mời gọi mọi người đến dự lễ thì vào bên trong nhà thờ, mong rằng sắp tới đây các ngài sẽ hỗ trợ mọi người vào nhà thờ bằng những hành động xoá rào cản thiết thực nhất, đồng cảm và khích lệ những người có nhu cầu tiếp cận.

Không có rào cản nào lớn bằng rào cản tâm lý, nếu như những rào cản vật lý – địa lý này còn không thể xoá bỏ thì còn lâu lắm nhà thờ mới trở nên tiếp cận cho rất cả mọi người.

.:: M.T ::.

Giao thông cho người khuyết tật

Posted on Updated on


Nhu cầu đi lại, cũng giống như nhu cầu sống, là nhu cầu tất yếu của tất cả mọi người. Mọi người có quyền ra đường và được ra đường. Tuy nhiên, giao thông hiện nay dường như chỉ phục vụ cho một bộ phận người dân chứ không phải tất cả. Không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới, hệ thống giao thông ngày nay đều chưa quan tâm đến một bộ phận không nhỏ người khuyết tật. Cuốn “Cuộc sống giữa những công trình kiến trúc” của GS.KTS Jan Gehi, ông có đề cập:

“Trong tình huống giao thông đi bộ, phải dẫn bộ đi lên hoặc đi xuống, thì dốc tương đối bằng phẳng nói chung được ưa chuộng hơn cầu thang. Dốc thoải cũng cho phép người ta đẩy xe nôi và lái xe lăn dễ dàng hơn. Vì vậy quy tắc chính cho giao thông đi bộ và sự khác nhau về độ cao là bất kỳ khi nào có thể thì hãy tránh sự thay đổi vè độ cao. Nếu cần hướng dẫn khách bộ hành đi lên hoặc đi xuống thì nên dùng dốc thoải chứ không phải cầu thang…”

Gần đây một số tp đã nhận ra điều này và thay đổi. Bước đầu là thay đổi vỉa hè để người đi bộ có thể đi lại dễ dàng hơn. Và tiến bộ hơn là thay đổi để hệ thống giao thông có thể phục vụ NKT đi xa hơn như hệ thống ống chờ xe bus ở Curitiba (Brazil) – một thành phố được mệnh danh là “thành phố giao thông công cộng”.

Curitiba là thủ đô của bang Parana, đây là thành phố phát triển nhanh chóng trong suốt nửa đầu thế kỷ 19 bởi một luồng dân nhập cư mới từ châu Âu và sự mở cửa đường biên giới khu kinh tế mới. Vào năm 1965, dân số thành phố chỉ là 400.000 người nhưng có tốc độ tăng xấp xỉ 4% năm, nhanh hơn bất kỳ thành phố Brazil nào khác. Ngày nay dân cư thành phố lên đến 1,7 triệu người và vùng đô thị 3 triệu người (2009) và diện tích thành phố cũng được mở rộng ra gấp đôi. Lo ngại nguy cơ phát triển mất kiểm soát chính quyền thành phố đã tiến hành quy hoạch tổng thể với nguyên tắc: “Quy hoạch giao thông là di chuyển con người chứ không phải xe hơi, do đó người đi bộ và giao thông công cộng được ưu tiên tại những khu vực thường xuyên tắc nghẽn.” Và năm 1974 hệ thống giao thông công cộng tích hợp (INT) được ra đời cùng với 20 trạm trung chuyển là những trạm chờ hình ống (boarding tube)

Với hệ thống này không chỉ người bình thường mà người khuyết tật ngồi xe lăn cũng có thể lên xuống xe bus một cách dễ dàng. Mỗi khi tới trạm hệ thống nối được thả ra kết nối với hệ thống ống chờ tạo thành một đường thẳng di chuyển rất dễ dàng. Có được hệ thống này Curitiba đã phải phát triển trong hơn nửa thế kỷ song song với quá trình quy hoạch tổng thể toàn thành phố. Thống kê đến nay đã được 340 tuyến xe bus với hơn 1,600 xe buýt, đáp ứng 2,1triệu lượt hành khách mỗi ngày.

Một dịch vụ khác cũng đang rất phát triển ở nhiều thành phố khác nhau trên thế giới là dịch vụ taxi cho người khuyết tật (taxi for disabled). Dịch vụ này được trợ giá và trang bị đường dốc cho người khuyết tật. Bạn có thể tìm hiểu kĩ hơn về dịch vụ này theo đường dẫn sau: http://www.accesstravelcenter.com/wctaxi.html#arizona


Trên khắp thế giới, tồn tại rất nhiều ý tưởng hay mà chúng ta có thể học hỏi và áp dụng vào Việt Nam, nhằm giúp việc di chuyển của người khuyết tật trở nên dễ dàng hơn.

Nguyễn Thị Tình